Phát huy tiếng nói của cộng đồng trong truyền thông môi trường ở Việt Nam

Phát huy tiếng nói của cộng đồng  trong truyền thông môi trường ở Việt Nam 

Gần 15 năm qua kể từ khi Internet xuất hiện chính thức ở Việt Nam vào ngày 19.11.1997, tỷ lệ người sử dụng dịch vụ này ở nước ta gia tăng đáng kinh ngạc, đặc biệt trong 5 năm gần đây. Theo số liệu của Bộ Thông tin - Truyền thông, tính đến hết tháng 10.2011, đã có hơn 26 triệu người sử dụng, tương đương với khoảng 31% dân số và đứng đầu các nước ASEAN về số lượng người dùng Internet. Trong đó, đa số người Việt Nam sử dụng internet cho nhu cầu công việc, tìm kiếm thông tin và giải trí. Các con số thống kê cũng cho thấy blog và mạng xã hội có sức hấp dẫn rất lớn đối với người Việt Nam, đặc biệt là là đối tượng trẻ, có tri thức. Gần 55% thanh niên dùng Internet trong lứa tuổi 15 đến 25 có blog cá nhân hoặc tài khoản mạng xã hội. Bên cạnh các cộng đồng trực tuyến lớn như ttvnol, vn-zom, webtretho... ra đời trước khi  có các mạng xã hội thế hệ mới, hiện cả nước có 130 mạng xã hội “nội địa” được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trong đó có một số dịch vụ thu hút đông cộng đồng trẻ như ZingMe, GoOnline, Yume, Tamtay… Facebook là mạng xã hội “ngoại nhập” được yêu chuộng cao ở Việt Nam với hơn 3 triệu thành viên, tính đến cuối năm ngoái và con số này vẫn tiếp tục gia tăng hàng ngày. ZingMe là mạng xã hội trong nước đạt trên 5 triệu thành viên từ đầu năm 2011. Hàng ngày, các cùng với các website báo chí, các trang thông tin điện tử, những mạng xã hội đã thu hút hàng chục triệu lượt người sử dụng internet ở Việt Nam đăng nhập, cập nhập, bình luận, tải ảnh, gửi bài… ( )
Các thiết bị di động cầm tay thế hệ mới, các thiết bị ghi âm, ghi hình ngày càng rẻ, điều kiện để được “sống” và làm việc trong không gian trực tuyến ngày càng dễ dàng, nhiều học sinh phổ thông giờ đây cũng có thể sở hữu chiếc di động thông minh với đủ các chức năng ghi hình, chụp ảnh, ghi âm, kết nối 3G mọi lúc mọi nơi… ( ) Trong khi đó, internet là mảnh đất màu mỡ không tốn tiền mua cho nên ai cũng thành người đưa tin, người bình luận đủ cấp độ, đủ nội dung, từ chuyện riêng tư của chính họ đến chuyện quốc gia đại sự, trong đó có những vấn đề về môi trường.
Thế mạnh tương tác của truyền thông mạng kéo các cơ quan báo chí cho ra đời nhiều hình thức để công chúng online khắp nơi có thể tham gia đưa tin, bình luận bằng văn bản, hình ảnh, video, audio clip về những sự kiện họ tận mắt chứng kiến. 
Giờ đây, những người không phải nhà báo chuyên nghiệp tham gia các hoạt động thu thập, phân tích và chia sẻ thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong môi trường internet ngày càng nhiều hơn. Những blog cá nhân, những trang mạng xã hội cũng “bình đẳng” về thông tin như các tờ báo lớn với biên độ tương tác, không gian “phủ sóng” toàn cầu, với khả năng làm phát thanh, làm truyền hình… 

Trong bối cảnh phát triển cực mạnh của đời sống truyền thông như thế, những vấn đề về môi trường – đặc biệt là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân – đã được cộng đồng tham gia đưa tin, thảo luận, đóng góp, bình luận…  góp phần tạo ra dư luận xã hội với biên độ rộng, với cường độ cao, đồng thời, đến lượt mình, môi trường truyền thông đa phương tiện và tương tác đa chiều cũng tác động mạnh mẽ đến nhận thức về vấn đề môi trường của một bộ phận lớn công chúng. 
Môi trường là lĩnh vực rộng và gắn chặt với đời sống, an sinh của người dân, cho nên, có thể nói, hiện nay, không ngày nào trên báo chí “chính thống” không có các nội dung thông tin liên quan đến chủ đề này. Đó có thể chưa phải là những đề tài trực tiếp đi vào các vấn đề lớn như biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm và suy thoái nguồn nước, cạn kiệt tài nguyên, hay sa mạc hóa mà chỉ là các vấn đề trực tiếp chạm đến đời sống người dân như thực phẩm bẩn, hóa chất độc hại, chất kích thích thực động vật, xả rác, khai thác nước ngầm, chặt phá rừng bừa bãi, sử dụng điện và đất đai lãng phí, ô nhiễm bụi, ô nhiễm tiếng ồn ở đô thị, xả thải trái phép ra các dòng sông, buôn bán động vật hoang dã v.v… Tất cả các nội dung thông tin sự kiện trên báo chí đều khơi mào cho công chúng truyền thông cùng tham gia đóng góp ý kiến, bình luận, thảo luận. Nhiều tác phẩm báo chí về đề tài môi trường vừa được xuất bản trên trang thông tin điện tử trong vòng một giờ đã đón nhận hàng trăm lời bình luận. Nhiều tác phẩm báo chí về các sự kiện môi trường sau khi đưa lên Internet đã được công chúng chia sẻ liên kết trên các trang mạng xã hội với hàng ngàn lượt ý kiến trao đổi. 
Trong vụ việc Công ty cổ phần TNHH Vedan Việt Nam ở Đồng Nai xả thải trái phép ra sông Thị Vải và bị phát hiện vào năm 2008, chỉ trong vòng 6 tháng sau kể từ khi sự kiện xảy ra, có đến 872 tác phẩm báo chí liên quan đến sự kiện này được xuất bản trên báo điện tử và trang thông tin điện tử kéo theo gần 3000 bình luận từ các mạng xã hội, blog và trong chính các trang báo chính thống (thống kê của Hội Nhà báo Đồng Nai). Những nội dung bình luận này đa phần bày tỏ thái độ bất bình trước hành vi của doanh nghiệp nhưng cũng có không ít ý kiến đề xuất nhiều giải pháp (ví dụ giải pháp đo lường để đền bù thiệt hại cho người dân). 
Nhiều ý kiến bình luận của công chúng truyền thông trên mạng internet đã trở thành đề tài hoặc gợi ý đề tài cho các nhà báo. Ví dụ, sự cố nhà máy xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp Long Thành - Đồng Nai thuộc Tổng Công ty Sonadezi bị phát hiện xả thải ra sông gây ô nhiễm vượt tiêu chuẩn kỹ thuật từ 5-10 lần với khối lượng trên 9.000m3/ngày đêm bị phát hiện ngày 03.08.2011 đã mở đầu cho một loạt bài trên các báo trong một thời gian dài. Sau sự cố đó, nhiều bản tin, phóng sự ảnh của một số tờ báo về đề tài “Sonadezi xả thải” được gợi ý từ thông tin của một số bạn học sinh THPT Long Thành đưa lên mạng xã hội Facebook (chẳng hạn vụ việc người dân khu vực kéo đến cống xả thải của nhà máy xử lý nước thải Khu công nghiệp Long Thành thuộc Công ty Sonadezi Long Thành để lấp cống vào sáng 27.04 vừa qua). 
Mạng xã hội nói riêng, Internet nói chung đã góp phần đắc lực đưa tiếng nói của cộng đồng về những vấn đề môi trường ngày càng sâu sắc và trách nhiệm hơn; quy mô, mức độ, hình thức thông tin ngày càng đa dạng phong phú hơn. Tiếng nói cộng đồng giờ đây không chỉ là những lời bình luận, bày tỏ thái độ mà còn là những bức ảnh có giá trị thông tin, những video clip gây hiệu ứng xã hội cao. Tiếng nói cộng đồng giờ đây còn là những ý kiến tư vấn sâu sắc, những phong trào “tự phát” như “chiến dịch ăn chay vì môi trường”, tẩy chay hàng hóa của các doanh nghiệp gây ô nhiễm, không ăn thịt động vật hoang dã, cùng tắt điện nhân giờ trái đất v.v…
Trên các diễn đàn, blog, mạng xã hội, khi có một sự kiện môi trường được báo chí khơi gợi, cộng đồng thường xuyên có các cuộc bàn luận sôi nổi. Tất nhiên, không phải cuộc bàn luận nào cũng sâu sắc, không phải ý kiến nào cũng đúng, thậm chí có khá nhiều những ý kiến cực đoan. Nhưng điều đáng nói là thông qua “tiếng nói cộng đồng” từ môi trường trực tuyến ấy, chúng ta nhận diện được một thế hệ công chúng truyền thông mới ở Việt Nam: tích cực và chủ động hơn, có trách nhiệm và kiên quyết hơn, dân chủ và tư duy phản biện rõ rệt hơn. Sự lên tiếng, tranh luận và phản biện của cộng đồng trên môi trường internet đa phần gắn với mối quan tâm chung của đời sống chung và thường ít bị chi phối bởi các nhóm quyền lực, nhóm lợi ích cụ thể nào nên có tác động mạnh đến nhận thức và hành vi của số đông.

Tuy nhiên, có một thực tế là, tỷ lệ các nội dung thông tin môi trường của công chúng truyền thông trực tuyến không cao, không sôi nổi so với nhiều mối quan tâm, nhiều đề tài thảo luận khác trong môi trường truyền thông này. Các nội dung thông tin môi trường có tính chất phát hiện từ các blogger, các thành viên mạng xã hội tuy khá phong phú, song so với nhiều chủ đề khác, cũng chiếm tỷ lệ thấp. 
Lý giải điều này không khó. Tiếng nói của cộng đồng qua môi trường Internet phụ thuộc rất lớn vào báo chí “chính thống”. Trong khi đó, tỷ lệ tin bài về chủ đề môi trường trên dòng báo chí chủ lưu hiện nay cũng còn thấp. Thường những nội dung thông tin môi trường – đặc biệt là thông tin sự kiện – trên báo chí chính thống mới chính là “chất xúc tác” để hình thành các cuộc trao đổi, tranh luận, phong trào… thu hút số lượng lớn công chúng tham gia trên các mạng xã hội, các diễn đàn trực tuyến. Mặt khác, các nội dung thông tin môi trường “vĩ mô” (như vấn đề biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học) cần có các kiến thức khoa học chuyên ngành, công chúng truyền thông trực tuyến không phải ai cũng có thể tham gia bàn luận được. 
Và như trên đã nói, thời đại internet tạo điều kiện cho ai cũng có thể trở thành “nhà báo”, công chúng ngày nay không chỉ thụ động tiếp nhận truyền thông từ các cơ quan thông tin đại chúng mà họ cũng biết chủ động “làm truyền thông”. Nhưng những “nhà truyền thông” không chuyên ấy còn gặp nhiều khó khăn, rào cản trong quá trình chủ động tham gia truyền thông môi trường. Không một người dân bình thường nào có thể được quyền đi vào một nhà máy xả thải trái phép để chụp ảnh quay phim và đưa lên mạng. Trên lý thuyết, “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” là quyền được chế định nhưng hệ thống pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể quyền của người dân trong việc tham gia giám sát bảo vệ môi trường. Xin nêu lên ở đây một ví dụ từ bản tin trên báo Tuổi Trẻ TP.HCM ngày 07.05 vừa qua ( ): 
“Chiều 6-5, đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh miền Trung và Tây nguyên và đoàn chuyên gia đầu ngành về địa chất, thủy văn, hồ đập đã có cuộc khảo sát thủy điện Sông Tranh 2. Mục đích của chuyến khảo sát này là chuẩn bị cho hội thảo “Phát triển thủy điện bền vững: các bài học và khuyến cáo” do mạng lưới sông ngòi Việt Nam và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam tổ chức diễn ra ngày 7-5. Ngay khu vực vào thân đập, Ban quản lý thủy điện 3 yêu cầu tất cả chuyên gia, nhà khoa học và đại biểu Quốc hội không được mang máy ảnh, máy quay phim vào đường hầm. Tất cả mọi người tuyệt đối không được quay phim, chụp ảnh khi đi vào trong thân đập. Cũng như nhiều lần trước, tất cả phóng viên báo chí đều bị ngăn lại từ bên ngoài không được đi theo đoàn khảo sát”.

Từ đầu tháng 3 đến nay, câu chuyện rò rỉ đập thủy điện Sông Tranh 2 ở huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam, một đập thủy điện lớn nhất miền Trung, đã trở thành trở thành mối quan tâm không chỉ riêng gì của người dân địa phương. Sự cố nghiêm trọng này đã buộc các cơ quan chức năng của Chính phủ phải vào cuộc và kéo hàng trăm cơ quan thông tin đại chúng lên tiếng với hàng ngàn tác phẩm báo chí. Từ một địa danh ít người biết, đến nay, khi gõ vào website tìm kiếm Google chuỗi ký tự “Sông Tranh 2”, có đến 9.850.000 kết quả được hiển thị trong vòng 0,40 giây. Nỗi lo lắng, sự bức xúc của công chúng thể hiện qua hàng trăm ngàn lượt bình luận trên các mạng xã hội về sự cố này. Những thông điệp mà cộng đồng mạng xã hội đưa ra về vụ Sông Tranh 2 hầu hết đều dựa trên cơ sở các thông tin, dữ kiện có được từ báo chí chính thống. Vì sao? Trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, thế nhưng, theo bản tin trên, đại biểu quốc hội, nhà nghiên cứu đều không được quyền chụp ảnh, ghi hình; nhà báo không được vào thân đập, nói gì đến những người dân bình thường. Công chúng là đối tượng chịu tác động cuối cùng và lớn nhất bởi các vấn đề môi trường trong khi tiếng nói của họ đến các bên liên quan lại gặp nhiều trở ngại. 
Một vấn đề khác, rào cản văn hóa cũng tác động không nhỏ đến truyền thông môi trường nói chung, tiếng nói của cộng đồng về vấn đề môi trường nói riêng. Nhận thức về vấn đề môi trường của đại đa số công chúng đã tăng lên rất nhiều trong những năm qua nhờ sự đóng góp không nhỏ của truyền thông nhưng những tồn tại của nền “văn minh lúa nước” với tư tưởng tiểu nông, chụp giật, “một đời ta muôn vàn đời chúng nó” dẫn đến coi nhẹ môi trường không thể một sớm một chiều có thể khắc phục hết được.
Nói cách khác, không chỉ là nạn nhân của các vấn đề môi trường, bản thân công chúng trong nhiều trường hợp còn là đối tượng gây sức ép lên môi trường như xả rác, khai thác nước ngầm, chặt phá rừng bừa bãi, sử dụng điện và đất đai lãng phí, lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật, làm dụng phụ gia thực phẩm, chẳng hạn. Các định chế xã hội hiện gặp cũng không ít khó khăn trong việc tác động là thay đổi nhận thức và hành vi của cộng đồng. 
Vì thế, làm thế nào để phát huy tiếng nói của cộng đồng, của công chúng - đối tượng vừa là nạn nhân và vừa là thủ phạm – trong truyền thông môi trường, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, nhằm góp phần để chính cộng đồng điều chỉnh lẫn nhau, góp phần làm chuyển đổi hành vi của từng cá nhân về vấn đề môi trường?
Đây là câu hỏi không dễ trả lời và cần có sự chia sẻ kinh nghiệm quốc tế không chỉ tại hội thảo lần này. 

Từ góc độ của một người làm công tác truyền thông, chúng tôi cho rằng, để tiếng nói cộng đồng về vấn đề môi trường được phát huy hữu hiệu hơn nữa, vai trò dẫn dắt, kết nối, định hướng của các cơ quan truyền thông chính thống hết sức quan trọng. 
Các nhà quản lý trong việc quy hoạch mạng lưới báo chí cần chú trọng hơn việc hình thành các cơ quan truyền thông chuyên về môi trường, từng cơ quan báo chí nên xây dựng chiến lược truyền thông môi trường, cần tập huấn cho các nhà báo nhận thức sâu sắc về lĩnh vực môi trường và lồng ghép nội dung truyền thông môi trường trong các thông tin chuyên ngành khác (chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội…).
Cần xây dựng nhiều các blogger, các thành viên diễn đàn, các thành viên mạng xã hội  có uy tín, có “thương hiệu” để những cá nhân này tác động tới cộng đồng bằng các hình thức truyền thông, xây dựng phong trào trên môi trường internet.
Phải có các quy định pháp luật cụ thể để mọi cá nhân trong cộng đồng có thể tham gia vào việc giám sát bảo vệ môi trường; có thể đóng góp ý kiến trước các chính sách, quyết định hành chính có liên quan đến lĩnh vực môi trường, các đánh giá tác động môi trường khi tiến hành một dự án nào đó v.v…

***
Thực tiễn truyền thông trực tuyến Việt Nam những năm qua cho thấy hạ tầng công nghệ, trình độ năng lực làm truyền thông ở Việt Nam đã tiếp cận, hội nhập khá nhanh với mặt bằng chung của thế giới. Tuy nhiên, lĩnh vực truyền thông môi trường, đặc biệt là việc nâng cao năng lực “tự truyền thông” của các thành viên cộng đồng vẫn còn hạn chế. Thời đại internet đã tạo ra một lớp công chúng truyền thông mới. Làm thế nào để từng thành viên cộng đồng trực tuyến cùng tham gia bảo vệ môi trường bằng hoạt động truyền thông, bằng các phong trào xã hội và hoạt động xã hội tự giác? Làm thế nào để công chúng truyền thông trực tuyến hôm nay có cơ hội tương tác đa chiều hơn, chủ động và tích cực hơn? Làm thế nào để truyền thông môi trường thông qua tiếng nói cộng đồng trực tuyến trở thành sức mạnh vật chất và tinh thần, góp phần điều chỉnh, thay đổi hành vi của cộng đồng? v.v…
Những câu hỏi đó đang chờ sự trả lời bằng nỗ lực, bằng sáng tạo của các nhà truyền thông chuyên nghiệp, đặc biệt là các nhà báo hiện nay.

ThS. Phan Văn Tú


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.