Xu hướng mới trong thói quen tiếp cận thông tin báo chí của giới trẻ TPHCM 2019

Thói quen cập nhật và“tiêu thụ”thông tin báo chí không ngừng thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển với tốc độ cực kỳ nhanh như hiện nay, thói quen cập nhật thông tin của độc giả cũng thay đổi liên tục qua từng khoảng thời gian rất ngắn.

 

Nếu coi thông tin báo chí, hay tin tức, như một sản phẩm và độc giả là người tiêu dùng sản phẩm thuần tuý thì việc nghiên cứu về sự thay đổi thói quen của độc giả đối với tin tức mang ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của báo chí và những người làm việc trong lĩnh vực báo chí truyền thông. 


Bài viết dưới đây là kết quả của một khảo sát bằng bảng hỏi hơn 300 đáp viên là những người trẻ (từ 16 đến 30 tuổi) đang học tập và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh về một số đề mục như: sử dụng phương tiện gì để cập nhật thông tin báo chí, thời gian đọc tin tức trung bình, khoảng thời gian tiếp cận với tin tức nhiều nhất trong ngày, nguồn (báo chí chính thống, mạng xã hội, kênh thông tin điện tử, diễn đàn, v.v) yêu thích để tiếp cận thông tin, suy nghĩ về việc trả phí cho tin tức, v.v. Hy vọng rằng, kết quả của đề tài nghiên cứu có thể trở thành một tài liệu tham khảo hữu ích cho những người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí truyền thông, bằng việc nắm bắt được thói quen của độc giả, chúng ta sẽ có những thay đổi hợp lý để phục vụ độc giả ngày một tốt hơn. 



2.Tóm tắt đề tài nghiên cứu



 
Để tìm hiểu xu hướng mới trong thói quen tiếp cận thông tin báo chí của độc giả TPHCM, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu khảo sát cho hơn 300 bạn trẻ và kết quả thu được là khoảng 55% đáp viên có độ tuổi từ 18 – 25 tuổi. Với tỉ lệ tới 67% đáp viên là người có trình độ văn hóa đại học, chúng tôi cho rằng kết quả nghiên cứu đã phản ánh đúng xu hướng thực tế của giới trẻ, vì rằng hơn 2/3 số người trả lời khảo sát có trình độ văn hóa cao, do đó câu trả lời của họ trở thành những cứ liệu đáng tin cậy. 


Ngoài ra, để có được góc nhìn đa chiều và xác đáng hơn nữa, chúng tôi phỏng vấn sâu một số nhà báo, lãnh đạo các tòa soạn (chúng tôi xin được phép không nêu tên, theo yêu cầu của các nhà báo), những người làm việc trực tiếp trong lĩnh vực báo chí, họ là người phục vụ nhu cầu của độc giả hằng ngày. Sự thay đổi trong quy trình tác nghiệp của nhà báo cũng như sự biến chuyển trong hoạt động của tòa soạn cũng giúp chúng ta thấy được sự thay đổi trong thói quen của độc giả. 




Những kết quả mà nghiên cứu làm rõ được, đồng thời là điều đáng chú ý nhất về nền báo chí của chúng ta trong những năm trở lại đây, điều này thể hiện sự thay đổi và chuyển dịch trong thói quen cập nhật tin tức của độc giả. Thứ nhất, sự sụt giảm mạnh mẽ, rất dễ nhận thấy, của báo in. Số lượng rất ít những người trẻ mà nghiên cứu khảo sát cho rằng họ coi báo in như một nguồn tiếp cận thông tin quan trọng. Thứ nhì, truyền hình dần mất đi sức hấp dẫn đối với công chúng. Điểm mấu chốt là, truyền hình mất hẳn sức hấp dẫn về mặt thời sự, công chúng không còn nhu cầu theo dõi thông tin báo chí và cập nhật tình hình thời sự từ truyền hình nữa. Thông tin thời sự sẽ không còn tính chất “thời sự” nữa nếu phải đợi đến truyền hình đưa tin. Công chúng hiện nay có quá nhiều kênh, quá nhiều cách để cập nhật thông tin liên tục. Về loại hình báo phát thanh, vốn dĩ xưa nay sức sống của phát thanh đã rất yếu ớt, loại hình này gần như lệ thuộc hoàn toàn vào sự bao cấp của Nhà nước để tồn tại một cách “không cần phát triển”. Thứ ba, trong bối cảnh công chúng trẻ “quay lưng” với những loại hình báo chí truyền thống thì báo chí đa phương tiện (dựa trên nền tảng thiết bị di động) đang là lối ra đồng thời cũng là xu hướng tất yếu của nền báo chí – truyền thông hiện nay. Các tờ báo mạng điển tử, không có phiên bản báo giấy đã và đang đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu, một phần vốn dĩ bị phần lớn các tờ báo chính thống của Việt Nam bỏ ngỏ từ trước đến nay. Chính việc nghiên cứu kỹ lưỡng về thị hiếu của công chúng, sự thay đổi trong thói quen tiêu thụ thông tin báo chí, nghiên cứu về giới và phổ tuổi của công chúng truyền thông; đặc biệt, thế mạnh về công nghệ cho phép báo chí di động đầu tư mạnh vào phần trực quang, thiết kế đồ họa, inforgraphic, interactive v,v đã giúp nhiều tờ báo mạng điện tử tìm được hướng phát triển phụ hợp, chạy theo kịp sự thay đổi rất nhanh trong thị hiếu và thói quen của công chúng, nhất là công chúng trẻ tuổi thành thị.



3. Thói quen của độc giả trẻ trong tiếp cận thông tin báo chí 



 


Kết quả khảo sát cho thấy, đến 93% đáp viên lựa chọn mạng xã hội là nguồn tiếp cận thông tin thường xuyên nhất của họ. Khi được hỏi thêm, công chúng có phân biệt được thông tin chính thống và phi chính thống không? Họ trả lời một cách rõ ràng rằng, họ biết rõ thông tin từ mạng xã hội là thông tin từ nhiều nguồn, không chính thống, nhưng họ vẫn chọn kênh này để cập nhật thông tin. Vì rằng, nếu cần xác minh thông tin, họ đủ khả năng để tìm kiếm thêm nhiều nguồn khác và có thể thẩm định thông tin. Điều đó nói lên xu hướng chung là công chúng trẻ cập nhât thông tin nhằng ngày chủ yếu thông qua mạng xã hội; và công chúng trẻ thành thị không còn mặn mà nữa với các loại hình báo chí truyền thống. Các con số cho truyền hình, báo in và phát thanh lần lượt là 30%, 26% và 15%. 


Đáng lưu ý, những câu trả lời về sự quan tâm đến thông tin báo chí của công chúng trẻ cho thấy rõ công chúng đang dành sự quan tâm rất ít cho báo chí – truyền thông chính thống. Tổng cộng có đến 40% đáp viên cho rằng họ không quan nhiều và hầu như không quan tâm đến thông tin báo chí. 40% đáp viên còn lại cho rằng họ chỉ quan tâm vừa phải đến thông tin mà báo chí cung cấp. Số liệu về mức độ tin tưởng thông tin báo chí chính thống còn đặt ra một vấn đề nan giải hơn cho chúng ta, những người làm việc trực tiếp trong công tác báo chí – truyền thông chính thống. Có gần ¼ số lượng đáp viên trả lời rằng không tin tưởng lắm và hầu như không tin tưởng thông tin mà báo chí cung cấp (con số cụ thể là 23%). Chỉ có 30% số người trả lời rằng họ tin tưởng thông tin báo chí, con số này thấp hơn 32% số người nói rằng họ chỉ tin tưởng vừa phải. 





Một khía cạnh khác về mức độ quan tâm của công chúng trẻ dựa theo lĩnh vực chuyên môn cũng cho thấy nhiều thực tế đáng ngạc nhiên. Những người có chuyên môn trong lĩnh vực kinh tế, luật và giáo dục – sư phạm là những công chúng quan tâm nhiều nhất đến thông tin – tin tức. Con số cụ thể là: 51% người có chuyên môn trong lĩnh vực kinh tế cho biết họ rất quan tâm đến thông tin – tin tức. Con số đó lần lượt là 45% và 40% cho lĩnh vực luật và giáo dục – sư phạm. Đáng chú ý, chỉ có 25% số lượng đáp viên trong lĩnh vực khoa học xã hội cho biết họ rất quan tâm đến thông tin – tin tức. Số người trả lời rằng họ không quan tâm nhiều và hầu như không quan tâm đến thông tin – tin tức phần lớn là trong lĩnh vực khoa học – kỹ thuật. Con số cụ thể, tổng cộng 50% đáp viên trong lĩnh vực này trả lời như thế. Trung bình, có từ 35% - 40% số đáp viên quan tâm một cách vừa phải đối với tin tức, bất kể họ có chuyên môn trong lĩnh vực gì.




Chúng ta phải nhìn nhận, thói quen không quan tâm đến thông tin báo chí cũng như không đặt niềm tin đối với thông tin mà báo chí cung cấp là một thực tế đáng buồn và đặt ra nhiều câu hỏi nan giải cho những người làm việc trong lĩnh vực báo chí – truyền thông. Lẽ thông thường, báo chí phải là kênh được công chúng đón nhận và tin tưởng, tuy nhiên, chúng ta dần đánh mất lòng tin từ phía độc giả. Chắc chắn sẽ có khá nhiều lý do giải thích cho thực tế này. Riêng chúng tôi thì cho rằng: tin giả là một trong những lý do chính. Hiện nay, có quá nhiều tin giả trên các kênh thông tin chính thống, kể cả những tờ báo lớn, có tên tuổi. Tin giả không phải là câu chuyện mới, và câu chuyện riêng của Việt Nam. Báo chí cả thế giới cũng đã và đang vật lộn với tin giả hằng ngày, hằng giờ. Tuy nhiên, ở Việt Nam, với một nền báo chí khá phức tạp và cách quản lý báo chí khá đặc thù đã khiến công chúng dần mất lòng tin vào cơ quan truyền thông. Công chúng tự tìm đến những kênh thông tin phi chính thống, như các mạng xã hội, cũng có rất nhiều tin giả, để thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình. Phải nói rõ rằng, độc giả ngày nay, phần lớn là độc giả thông minh, họ thừa nhận thức và kỹ năng để biết rằng chúng ta đang làm lơ điều gì, đang né tránh điều gì. Độc giả, mà chủ yếu là độc giả thành thị có đủ nhạy bén để đọc một bài báo và hiểu toàn bộ câu chuyện đằng sau bài báo đó và họ sẽ không thể chấp nhận khi phát hiện tin giả trên báo chí chính thống, một khi tự bản thân họ có thể thẩm định được thông tin thì họ đương nhiên không còn mặn mạ với báo chí chính thống nữa. Như vậy, việc thay đổi thói quen, không còn quan tâm đến báo chí và phát ngôn của các cơ quan truyền thông chính thống, cho dù rõ ràng không mang lại hệ quả tích cực, nhưng cũng là một thực tế khách quan mà chúng ta phải nhìn nhận. 




Trong bối cạnh đó, những kênh thông tin phi chính thống vô hình trung trở đối thủ của báo chí chính thống và nếu chúng ta gọi những kênh như Facebook, Youtube,… là đối thủ của báo chí là bởi vì chúng ta, truyền thông chính thống đang đặt họ ở vị trí đối thủ, chứ bản thân những mạng xã hội này không phải là đối thủ. Vì sao như vậy? Bởi vì, truyền thông chính thống có đặc thù riêng, có đối tượng độc giả riêng (đối tượng độc giả thường xuyên lẫn đối tượng độc giả theo nhu cầu). Khi công chúng có nhu cầu cập nhật thông tin nhanh lẹ, tham khảo thông tin tổng quát, tổng quan, hoặc đơn thuần là giải trí, giết thời gian, họ sử dụng mạng xã hội. Nhưng khi công chúng cần tìm kiếm sự thật, xác minh thông tin thực tế, họ nhất thiết phải tìm đến báo chí. Có thể giải thích thêm, chính đặc thù quản lý báo chí ở Việt Nam, đã đặt báo chí chính thống vào vị trí đối thủ của mạng xã hội. Đó là do, có nhiều thông tin độc giả cần biết cặn kẽ nguồn gốc sự thật thì báo chí lại không thể xác minh cho độc giả, hoặc thậm chí không đưa tin, vì tôn chỉ, mục đích hoạt động, các tờ báo thật sự không thể đưa thông tin. Như vậy, trong tình huống đó, độc giả buộc lòng phải tìm đến mạng xã hội để thỏa mãn nhu cầu cập nhật tin tức và tìm kiếm sự thật của mình. Trong những điều kiện thông thường, khi các tòa soạn báo hoặc cơ quan báo chí sản xuất nội dung tin bài, họ vẫn cần nhờ tới Facebook để “share link”. Mặt khác, người đọc cũng không phải vì Facebook mà không mua báo in, không xem truyền hình chính thống; bởi vì họ có điện thoại thông minh, có máy tính, v.v để cập nhật thông tin khi cần. Một ví dụ khác, các doanh nghiệp hiện nay thường chi khoản 70% cho quảng cáo trên mạng xã hội và chi 30% cho quảng cáo trên báo chí chính thống. Lý do đơn giản là độ phủ sống của mạng xã hội rộng hơn, chứ không phải thông tin trên mạng xã hội quan trọng hơn hay đáng tin hơn thông tin báo chí. Do vậy, trong điều kiện như thế, ta thấy rất rõ báo chí và mạng xã hội vừa là đối thủ mà lại không thể là đối thủ. Nếu chúng ta có một cơ chế quản lý báo chí – truyền thông tốt thì cả đôi bên sẽ song song có lợi, và cùng phát triển. Chúng ta có thể hình dung như sau, các mạng xã hội vẫn cần báo chí chính thống để thẩm định thông tin, vì khi các tờ báo có uy tín lên tiếng thì công chúng sẽ tin tưởng. Mặt còn lại, các tờ báo tốt, có lượng độc giả lớn, nên được Facebook và các mạng xã hội khác hỗ trợ bằng các thuật toán thông minh của Facebook để tiếp cận được nhiều độc giả hơn nữa. Như vậy, trong một hình dung như thế, báo chí chính thống và mạng xã hội sẽ dựa vào nhau và phát triển một cách mạnh mẽ mặc cho công chúng có thay đổi thị hiếu hay thói quen tiếp cận tin tức như thế nào đi nữa.


4. Tìm kiếm giải pháp từ việc phân tích thói quen của công chúng 


Trong số những thiết bị được đưa ra là máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng, điện thoại di động thông minh, tivi (kể cả truyền thống và smart tivi) thì có tới 95% số lượng đáp viên lựa chọn điện thoại di dộng là thiết bị chính cho việc cập nhật thông tin của mình. Trong khi đó, các thiết bị như máy tính đề bàn, máy tính xách tay chỉ có con số dao động từ 45% - 55%, tivi và máy thu thanh là 2 thiết bị ít được lựa chọn nhất để công chúng trẻ cập nhật thông tin hằng ngày. Từ những số liệu trên cộng với tình hình chung của nên báo chí đa phương tiện, chúng ta có thể dự báo rằng, báo chí di dộng là một trong những giải pháp khả thi, chạy theo kịp sự thay đổi chóng vánh trong thị hiếu và thói quen cập nhật tin tức của độc giả.


 
Những tờ báo có sức sống thật sự hiện nay đều có chung đặc điểm là nghiên cứu rất kỹ lưỡng về thói quen độc giả. Sự tiến bộ trong “cuộc đua”  khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin phục vụ cho công tác làm báo từ khâu quản lý tòa soạn, quản lý phóng viên, đào tạo nguồn lực và nghiên cứu công chúng truyền thông v.v đều hướng đến một mục đích cuối cùng là “chạy theo” độc giả đang thay đổi thói quen nhanh chóng. Nghiên cứu nội bộ của Zalo Group chỉ ra các phân khúc độc giả như sau: VnExpress và Zing.vn đã chia nhau phân khúc độc giả “vàng” trong thị trường báo chí  - truyền thông. Trong số bốn tờ báo hàng đầu, thu hút lượng độc giả lớn nhất tại TPHCM là Tuổi Trẻ, Thanh Niên, VnExpress, Zing.vn thì 2 tờ báo điện tử đang phục vụ đối tượng độc giả chính là từ 18 đến 45 tuổi. Cụ thể, Zing.vn có đối tượng độc giả trọng yếu là từ 18 đến 35, còn VnExpress đánh mạnh vào phân khúc độc giả từ trên 30 đến 45 tuổi. Nếu so sánh với nghiên cứu quốc tế của tổ chức “We Are Social” thì chúng ta thấy rằng 2 tờ báo mạng vừa nêu đã lần lượt chia nhau phân khúc độc giả quan trọng nhất trong thị trường báo chí – truyền thông. 




Một ví dụ điển hình là trường hợp của báo mạng điện tử Zing.vn. Tuy chỉ mới ra mắt độc giả hơn 5 năm nhưng tính đến tháng 1 năm 2019 vừa rồi, báo mạng điện tử Zing.vn đã vươn lên vị trí thứ 2 (tính theo tổng số lượt người truy cập hằng tháng) trong tổng số rất nhiều trang báo mạng điện tử tại Việt Nam. Từ khởi đầu là một trang báo mạng điện tử được công chúng đánh giá là “lá cải”, Zing.vn sau chỉ hơn 5 năm đã thành công ngoài mong đợi với chiến lược đặc biệt của mình: thu hút độc giả trước hết bằng yếu tố nghe nhìn, đầu tư nhiều nhất cho Longform (một thể loại báo chí mới lấy việc thỏa mãn nhu cầu độc giả là trọng tâm, kết hợp nhiều dạng thức truyền đạt thông tin như: chữ viết, hình ảnh, âm thanh, video, thông tin đồ họa, đồ họa tương tác). Trong bối cảnh “ảm đạm” của nền công nghiệp báo chí trên phạm vi toàn cầu, báo chí Việt Nam trong nhiều năm cũng đang trên đà tuột dốc, những tờ báo như Zing.vn đã mở ra khả năng cho sự phát triển. 
Ngoài ra, báo mạng điện tử (dựa trên nền tảng thiết bị truy cập chính là điện thoại di động) trong thời gian 5, 10 năm trở lại đây, vì sao lại có thể chẳng những đứng vững mà còn phát triển một cách nhanh chóng trong khi báo chí – truyền thông nói chung đang trên đà đi xuống? Câu trả lời có thể được tìm thấy từ việc quan sát sự hợp tác của báo mạng điện tử với các mạng truyền thông xã hội như Facebook, Youtube, v.v. Chìa khóa cho sự thành công nằm ở chỗ: các tờ báo mạng có nguồn nhân lực chủ yếu xuất phát từ lĩnh vực công nghệ, họ từ sớm đã nhìn thấy rõ nguy cơ trở thành đối thủ với các trang thông tin phi chính thống, các trang mạng xã hội (vốn dĩ đang được công chúng sử dụng rộng rãi). Thay vì đối đầu trực diện hoặc cạnh tranh ảnh hưởng với những “đối thủ” này, phần lớn các báo mạng điện tử tại TPHCM đã chọn giải pháp khôn ngoan là hợp tác và chia sẻ lợi ích. Quá trình đó có thể được phân tích như sau: phần lớn công chúng hiện nay đều có tham gia vào mạng truyền thông xã hội, họ tìm được tin tức cần thiết một cách nhanh chóng trên các mạng xã hội; khi có nhu cầu thẩm định hoặc tìm hiểu sâu về thông tin báo chí, công chúng mới tìm đến báo chí thông qua các đường link được chia sẻ trên Facebook hoặc Youtube. Hầu như rất ít độc giả tải app đọc báo hoặc truy cập trực tiếp vào các trang web của tờ báo, họ tìm đến báo mạng điện tử qua hình thức dẫn link. Các báo điện tử thấy rõ được thói quen này của độc giả, họ tìm cách hợp tác với Facebook, Google (vốn là những công ty hàng đầu thế giới về công nghệ thông tin) để bằng thuật toán thông minh, các bài báo của họ tiếp cận được đúng đối tượng độc giả thao chiều sâu và lan tỏa được đa dạng đối tượng độc giả theo chiều rộng. Mặt còn lại, báo mạng điện tử có khả năng giúp mạng xã hội thẩm định tin tức, tạo niềm tin đối với công chúng đang sử dụng mạng xã hội (trong bối cảnh mạng xã hội trong vài năm trở lại đây đang bị công chúng, độc giả thông minh tẩy chay vì các vấn đề như fakenews, quảng cáo chính trị, tiết lộ thông tin bảo mật của người dùng v.v) vì vốn dĩ công chúng vẫn tin vào báo chí chính thống hơn là những tin tức tràn lan trên mạng xã hội. Chính sự hiểu biết một cách sâu sắc thói quen của độc giả, đã là chìa khóa thành công cho báo chí di động trong thời gian gần đây.




Tóm lại, trong bối cảnh công chúng của báo chí truyền thông phần lớn hiện nay là công chúng trẻ và thói quen cập nhật thông tin báo chí của họ cũng đang thay đổi rất nhanh chóng, 4 yếu tố có thể được đút kết lại như là “chìa khóa” cho nền báo chí – truyền thông của chúng ta chính là: thứ nhất, Việt Nam cần thay đổi cơ chế quản lý báo chí theo hướng linh hoạt năng động và tích cực hơn; thứ 2, đánh giá được tầm quan trọng của mạng truyền thông xã hội, theo dõi sát sao sự thay đổi trong xu hướng và thói quen của độc giả để luôn có những điều chỉnh phù hợp, kịp thời; thứ 3, các tờ báo cần chú trọng đầu từ vào lĩnh vực nghiên cứu, cần coi nghiên cứu là một trong những bộ phận không thể thiếu của bất kỳ tòa soạn báo hiện đại nào, cân đối ngân sách và đầu tư hợp lý cho nghiên cứu sẽ mang lại những hiệu quả to lớn; thứ 4, các tòa soạn báo hiện đại cần chủ động hơn nữa trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, nên huy động tối đa nguồn lực chất lượng cao từ lĩnh vưc khoa học - công nghệ, nắm được khoa học công nghệ mới chính là chìa khóa thành công của nhiều tờ báo hiện nay./.

Minh Bằng

 

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.