Tường thuật chiến tranh

Tham gia tường thuật về một cuộc chiến là công việc cam go nhưng cũng vô cùng hấp dẫn vì khi ở chiến trường, giữa những làn bom đạn và những tiếng thét la, dường như sự hăng say và đam mê của người làm báo được đẩy lên cao nhất. Anh ta dành trọn con người mình với mọi giác quan, mọi tình cảm, mọi ý nghĩ, thậm chí dám liều với cả mạng sống của mình để có được những thông tin nóng hổi về cuộc chiến. Thế nhưng, liệu lý tưởng và nhiệt huyết của phóng viên chiến trường có thể thay đổi được thế giới, hay thật ra họ vẫn chỉ là công cụ phục vụ cho một cỗ máy có sức mạnh khổng lồ đang chi phối thế giới bằng quyền lực chính trị và kinh tế? Nghiên cứu vai trò của báo chí truyền thông trong những cuộc chiến đã từng diễn ra trong lịch sử phần nào có thể đem lại cho chúng ta câu trả lời, dù rằng câu trả lời này có vẻ cũng phức tạp như chính câu hỏi.
Vai trò của truyền thông trong chiến tranh là tường thuật. Theo hai nhà nghiên cứu Thussu và Freedman (2003), báo chí truyền thông thường tường thuật chiến tranh theo một số xu hướng sau: i) tường thuật độc lập, có chính kiến riêng (critical observer); ii) tường thuật theo ý đồ của các thế lực đằng sau cuộc chiến (publicist); iii) vai trò thứ ba có phần trừu tượng hơn, đó là vẽ nên chiến trận với những công nghệ mới (battleground).
1 – Tường thuật độc lập
Đây là kiểu tường thuật lý tưởng nhất. Khi đó, các nhà báo tường thuật độc lập, không thiên vị và không chịu sự chi phối của bên nào. Với tinh thần độc lập, nhà báo có thể thoát khỏi các quy định chặt chẽ và ý đồ chính trị của các bên tham chiến để tường thuật và bình luận về những gì diễn ra trên chiến trường theo quan điểm và chính kiến của mình. Tất nhiên muốn làm được điều này, nhà báo cũng phải chuẩn bị tinh thần đương đầu với những lời phê bình, nhắc nhở, thậm chí là những đe dọa từ phía các thế lực điều khiển cuộc chiến.
Một ví dụ điển hình cho thành công của kiểu làm báo này là những gì mà báo chí đã làm được trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam. Thời gian đầu, khi cuộc chiến diễn ra, rất nhiều phóng viên ủng hộ cuộc chiến này. Họ giúp cho dư luận suy nghĩ tích cực về cuộc chiến và không hoảng sợ. Tuy nhiên, khi số thương vong ngày càng tăng, các nhà báo bắt đầu đặt câu hỏi, nghi ngờ các báo cáo của chính phủ và ngày càng tỏ ra “cứng đầu” hơn. Họ chuyển sang tường thuật về sự thảm khốc của chiến tranh và những điều mờ ám đằng sau cuộc chiến. Các nhà báo như Kyoichi Sawada, Larry Burow, Carl Robinson, Jean-Claude Pomonti,… đã viết về những điều tận mắt chứng kiến một cách chân thực, khách quan với tư cách là một phóng viên chiến trường chuyên nghiệp. Một trong những cột mốc quan trọng của báo chí trong cuộc chiến này là chương trình tường thuật đặc biệt của nhà báo Walter Cronkite, đài CBS[1]. Sau khi có mặt tận nơi tại chiến trường Việt Nam, ông quay trở về và thực hiện chương trình truyền hình “Documentary on Vietnam”, nội dung thể hiện rõ quan điểm cho rằng cuộc chiến này là một “sự bế tắc đẫm máu” và quân đội Mỹ không thể dành chiến thắng. Ngay cả tổng thống Mỹ Nixon sau khi xem chương trình này cũng phải cho rằng chương trình này đã cho thấy những điều tồi tệ, đau khổ và những mất mát do chiến tranh gây ra. Năm 1975, nhà nghiên cứu truyền thông người Canada Marshall Mc Luhan đã nhận xét: “Truyền hình đã đưa những hình ảnh tàn khốc của cuộc chiến vào tận các phòng khách của từng hộ gia đình ở Mỹ. Cuộc chiến Việt Nam đã thất bại từ ngay trong những phòng khách này chứ không phải trên chiến trường Việt Nam” (Television brought the brutality of war into the comfort of the living room. Vietnam was lost in the living rooms of America - not on the battlefields of Vietnam)[2]. Đây là một trong những câu trích dẫn nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam. Câu nói này cho thấy sức mạnh của báo chí, đặc biệt là của truyền hình khi tường thuật về chiến tranh. Đôi khi, nó có thể khiến cả cục diện cuộc chiến thay đổi.
Những hình ảnh do các nhà báo chụp được trong cuộc chiến tranh này cũng dẫn đến làn sóng phản chiến bùng nổ tại Mỹ và các nơi khác trên thế giới. Trong số đó có thể kể đến những bức nổi bật như hình ảnh bé gái Nguyễn Thị Kim Phúc bị bỏng do bom napalm (nhà báo Nick Út, hãng thông tấn AP), Tướng Nguyễn Ngọc Loan xử bắn chiến sĩ Việt Cộng Bảy Lốp (nhà báo Eddie Adams, hãng thông tấn AP). Sự xuất hiện của những bức ảnh này trên báo chí Mỹ và nhiều tờ báo khác trên toàn thế giới đã tác động mạnh đến dư luận, khiến dư luận có cách nhìn khác về cuộc chiến.
Nhờ có báo chí, trong đó đặc biệt là truyền hình, thế giới biết về sự thảm khốc của cuộc chiến và lên án cuộc chiến – điều này đi ngược lại với ý đồ của nhà cầm quyền. Nhiều nhà nghiên cứu truyền thông đã đồng tinh rằng, báo chí chính là một trong những sức mạnh dẫn đến việc chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam.
Tóm lại, khi tường thuật một cách trung thực, độc lập và có tinh thần phản biện, báo chí buộc chính phủ phải cung cấp các thông tin cởi mở hơn, chính xác hơn và đưa ra các quyết định có cân nhắc đến mạng sống của binh lính và thường dân. Theo cách tường thuật này, các phương tiện truyền thông sẽ đóng vai trò quan sát và phê bình. Đồng thời, vì phải cạnh tranh với vô số các tờ báo, hãng thông tấn, đài phát thanh, truyền hình, phóng viên bao giờ cũng phải làm việc hết sức mình để có những tin tức mới nhất, độc đáo nhất và trên hết là phải đảm bảo tính khách quan và trung thực. Nếu làm được điều này, báo chí thật sự được xem là quyền lực thứ tư trong xã hội và là chỗ dựa về thông tin đáng tin cậy của công chúng.
2 – Tuyên truyền cho các bên tham chiến
Trên thực tế, có rất nhiều nhà báo tường thuật chiến tranh dựa trên các thông cáo báo chí và quan điểm của nhà cầm quyền, hoặc theo cách này hay cách khác họ để cho những chuyên gia PR (quan hệ công chúng) của chính phủ điều khiển. Nhà nghiên cứu Philip Knightley trong cuốn The First firualty (1989) đã mô tả lại rằng trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, các phóng viên người Anh đã đồng ý mặc quân phục như binh lính và để những người lính “hướng dẫn” cần tường thuật ở những nơi nào. Thay vì có quan điểm độc lập, họ đã trở thành người tuyên truyền cho những ý đồ của các thế lực điều khiển cuộc chiến. Họ trở thành người đi theo (follower) chứ không giữ được vị trí dẫn đường dư luận (leader). Báo chí truyền thông lúc này chỉ củng cố thêm , khẳng định thêm những quan điểm của các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự. Họ thực hiện chức năng tuyên truyền chứ không giữ được vai trò thông tin và bình luận độc lập. Tất nhiên, cũng khó đánh giá đúng sai trong cách thức tường thuật chiến tranh theo kiểu này vì khi cuộc chiến đã nổ ra, báo chí quốc gia nào cũng đặt lợi ích của quốc gia mình lên trên tất cả.
Không phải nhà báo nào cũng chủ động muốn làm cái loa tuyên truyền. Trên thực tế, họ bị rơi vào thế khó. Hầu hết các phóng viên đều nhận định rằng, trong các cuộc chiến gần đây như chiến tranh Vùng Vịnh, chiến tranh Iraq, chính quyền kiểm soát thông tin chặt chẽ hơn trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Tin tức họ nhận được phần lớn đến từ thông cáo báo chí của nhà cầm quyền. Mặt khác, mối quan hệ chặt chẽ giữa các tập đoàn truyền thông với chính quyền và quân đội cũng là là một trong những lý do khiến khả năng tác nghiệp độc lập của phóng viên bị ảnh hưởng.
Ngoài ra, truyền thông còn bị các chuyên gia quan hệ công chúng (PR) của chính phủ lôi kéo và lợi dụng (manipulation)[3]. Chính phủ biết rằng, báo chí lúc nào cũng cần thông tin và họ sẵn sàng cung cấp các gói thông tin cho báo chí sử dụng. Tháng 3/2005, tờ New York Times cho biết, chính quyền Bush đã chi 254 triệu USD cho các hợp đồng với các hãng PR trong nhiệm kỳ đầu, gần gấp đôi số tiền chính quyền của Clinton đã chi. Hầu hết khoản tiền này để thực hiện các gói thông tin thô nhờ các chuyên gia quan hệ công chúng tìm cách đăng trên báo và truyền hình, làm cho công chúng tưởng nhầm đó là các thông tin độc lập (Lisa Finnegan, 2007).
Bên cạnh đó, nhà cầm quyền cũng đưa ra nhiều chiến thuật nhằm xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các nhà báo. Dựa trên lý do có rất nhiều nhà báo bị giết, bị bắt cóc khi tham gia đưa tin về chiến tranh[4], nhà cầm quyền đã đưa ra chương trình “embedded journalism” – đi kèm quân đội. Có nhiều toà soạn ủng hộ chương trình này để đảm bảo an toàn cho phóng viên của họ. Trong thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến với Iraq cuối năm 2002 và đầu 2003, hàng trăm nhà báo Mỹ đã tham gia các chương trình huấn luyện của Lầu Năm Góc nhằm hướng dẫn họ những kỹ năng cơ bản để sống sót ở chiến trường, những chính sách quân sự và cách sử dụng một số loại vũ khí. Sau đó, những nhà báo này đi cùng với binh lính Mỹ trong các cuộc chiến. Việc đi cùng với quân đội trong cuộc chiến với Iraq gây nhiều tranh cãi. Trước kia, trong chiến tranh Việt Nam, các phóng viên trực tiếp đi cùng quân đội đến những điểm nóng trong cuộc chiến. Nếu bị từ chối, họ sẽ thuyết phục cho bằng được hoặc sẽ chủ động tìm cách này hoặc cách khác để lăn xả ra chiến trường. Còn trong cuộc chiến Iraq, với danh nghĩa đưa nhà báo đi cùng quân đội để đảm bảo an toàn cho nhà báo, đồng thời khiến nhà báo hiểu hơn về quân đội, nhà cầm quyền đã tìm được cách kiểm soát phần nào hoạt động của người làm báo tại chiến trường. Có một số nhà báo ủng hộ chương trình Embed, một số khác chỉ ra mặt trái của chương trình này với phóng viên chiến trường.
“Tôi nghĩ đây [embed] là điều vô giá và giới truyền thông nợ quân đội theo một nghĩa nào đó. Việc đi cùng đã xây dựng mối quan hệ vững chắc giữa nhà báo và binh lính Mỹ, cũng như giữa truyền thông và quân đội vì bạn sẽ biết làm một người lính Mỹ thì như thế nào và bạn cần phải hiểu được nhân vật của bạn”
Nhà báo Mitch Prothero, hãng thông tấn UPI (Mike Hoyt, 2007).
“Đi cùng quân đội [embed] là một từ thú vị nhằm giúp cho các nhà báo biết được hoạt động của quân đội mặc dù việc quan sát trong cuộc chiến tranh Việt Nam cởi mở hơn… Điều giới hạn duy nhất trong việc đi cùng là bạn phải đi nơi nào quân đội đi và theo kế hoạch của họ. Bạn sẽ không thể làm tất cả những điều bạn muốn hoặc truy cập tất cả các thông tin mà bạn cần. Và bạn cũng không thể nói chuyện trực tiếp với người dân Iraq khi bạn tham gia đi cùng quân đội”
Nhà báo Dan Muphy, The Christian Science Monitor (Mike Hoyt, 2007)
Sau cuộc chiến tranh Iraq, các thuật ngữ như “Spin Doctor” hay PR (chuyên gia quan hệ công chúng), media manipulation (sử dụng truyền thông) được nhắc đến thường xuyên trong các nghiên cứu về mối quan hệ giữa chiến tranh và truyền thông. Với kiểu tường thuật bị can thiệp và lợi dụng này, báo chí khó giữ được tiếng nói độc lập và sự công bằng. Tác giả Lisa Finnegan trong cuốn “No questions asked” (Không có câu hỏi được đặt ra) đã nhận xét: “Thật không may mắn, sau vụ khủng bố 11/9, các cơ quan báo chí quên rằng vai trò của họ là quan sát những gì đang xảy ra, đặt ra những câu hỏi khó và tường thuật những gì họ thấy và nghe được. Thay vào đó, các nhà báo lại hạn chế tìm những góc nhìn khác, nhấn mạnh quan điểm của nhà cầm quyền và chỉ tường thuật một nửa sự thật khiến cho công chúng bị nhầm lẫn”.
3 – “Hãy để tôi vẽ ra cuộc chiến”
Đây là nội dung bức điện tín nổi tiếng từ chủ bút William Randolph Hearst của tờ New York Journal gửi cho họa sĩ trình bày lúc đó đang làm thông tín viên tại Cuba. Trước đó, Frederic Remington (tên người họa sĩ này) đã nhận định về tình hình mâu thuẫn tại Cuba qua một bức điện gửi cho ông chủ Hearst vào tháng 1 năm 1897 như sau: “Mọi thứ đều yên tĩnh. Không có vấn đề gì cả. Sẽ không có chiến tranh. Tôi muốn quay về” (Everything is quiet. There is no trouble. There will be no war. I wish to return). Và Hearst đã trả lời: “Hãy ở lại. Ông cứ vẽ tranh đi, còn tôi sẽ vẽ ra cuộc chiến tranh” (Please remain. You furnish the pictures and I’ll furnish the war). Chỉ một thời gian ngắn sau đó, quả thật chiến tranh đã bùng nổ[5].
Về sau này, các nhà nghiên cứu cho rằng việc Hearst có gửi bức điện đó hay không thì còn phải xem xét lại. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng Hearst đã lợi dụng sự kiện chiến hạm Maine của Mỹ bị nổ tung không rõ lý do để đăng loạt bài đổ lỗi cho Tây Ban Nha, thổi bùng sự bất bình của dư luận, khiến cho dư luận tạo sức ép lên chính quyền và kết quả là dẫn đến chiến tranh. Trong mối quan hệ giữa báo chí và chiến tranh, đây là một trường hợp khá thú vị vì báo chí đã khiến chiến tranh nổ ra để sau đó “vẽ lại” cuộc chiến theo mong muốn bán báo của một người[6]. Sự kiện này đã giúp tờ New York Journal của Hearst vượt lên dẫn đầu, trở thành tờ báo có số lượng phát hành cao nhất nước Mỹ vào cuối thế kỷ XIX.
Ý tưởng “Hãy để tôi vẽ ra cuộc chiến” của nhà tài phiệt truyền thông William R. Hearst từ cuối thế kỷ XIX dường như vẫn khả thi trong thời điểm hiện tại. Cuộc chiến Vùng Vịnh 1990-1991 ghi nhận sự đóng góp của truyền thông trong việc đưa cuộc chiến đến công chúng 24/7 bằng cả hình ảnh thật trên chiến trường lẫn những hình ảnh sử dụng công nghệ mô phỏng hoặc chụp từ vệ tinh. .
Năm 1996, Ủy ban Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ đã tổ chức hội thảo tại Irvine, California, trong đó thành phần khách mời là đại diện các cơ quan nghiên cứu của Bộ quốc phòng và các tập đoàn giải trí như Disney, Paramount, Pixar,… để thảo luận về khả năng kết hợp giữa hai lĩnh vực: quân sự và giải trí. Hội thảo rút ra kết luận rằng:
“Công nghệ mô phỏng đang trở nên hết sức quan trọng đối với ngành công nghiệp giải trí và Bộ Quốc phòng Mỹ. Trong lĩnh vực giải trí, công nghệ này là nền tảng của các trò chơi điện tử, các công viên trò chơi, trung tâm giải trí và những hiệu ứng đặc biệt của phim ảnh. Với Bộ quốc phòng, công nghệ mô phỏng là phương thức tiết kiệm chi phí cho việc huấn luyện, đánh giá chiến thuật mới và thử nghiệm hiệu quả của các loại vũ khí mới… Những lợi ích chung này khiến ngành công nghiệp giải trí và bộ quốc phòng có thể gặt hái những thành quả tốt hơn nhờ vào việc hợp tác nghiên cứu công nghệ mới”
Trích báo cáo “Công nghệ mô phỏng: Sự kết nối giữa giải trí và quân sự” (Modeling and Simulation: Linking Entertainment and Defense) năm 1996 của Ủy ban Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ (US National Research Council – NRC)[7]
Việc tường thuật về chiến tranh trên báo chí hiện nay có xu hướng sử dụng những định dạng trình bày của lĩnh vực giải trí, ví dụ như sử dụng hình ảnh các loại vũ khí tối tân được tạo từ máy tính, sinh động hoá số liệu với các đồ họa và bảng biểu, phát sóng những hình chụp địa điểm từ vệ tinh hoặc tổ chức các buổi trò chuyện với các chuyên gia (talk show),… Nhà nghiên cứu Jonathan Burston nhận xét, chiến tranh bây giờ có nét giống với phim hành động của Hollywood hoặc giống như một trò chơi điện tử. Xu hướng kết hợp giữa quân sự và giải trí đã khiến nhà nghiên cứu ông đưa ra một từ mới: “Militainment” – một sự kết hợp giữa từ quân sự (military) và giải trí (entertainment), và đánh giá những sự kết hợp giữa hai lĩnh vực này như cuộc hôn nhân giữa Hollywood và quân sự[8].
Nhận xét này đang gây tranh cãi. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cách thức tường thuật chiến tranh này của báo chí có lẽ xuất phát từ mong muốn của người làm báo, đó là tạo sự mới mẻ và thú vị để thu hút người xem. Đặc biệt trong sự phát triển của truyền thông đa phương tiện (multimedia) hiện nay, các kỹ thuật vi tính có thể đem đến những cách trình bày mới, hấp dẫn hơn và giúp người xem dễ hình dung hơn. Nhưng mặt khác, nếu có ai phản biện rằng đây là chiến thuật truyền thông mới của những thế lực muốn thúc đẩy các cuộc chiến thông qua việc khiến cho công chúng hứng thú (hoặc không sợ hãi và chống đối) với các hình ảnh chiến tranh vì lợi ích chính trị hoặc kinh tế thì cũng cần xem xét.

Thay cho lời kết
Công chúng vốn có xu hướng quan tâm đến các thông tin về chiến tranh, xung đột, thiên tai, đại dịch,… Để đáp ứng nhu cầu thông tin cho công chúng, báo chí truyền thông luôn có mặt tại những điểm nóng nhất trên thế giới. Với báo chí, chiến tranh là một trong những nội dung khiến báo chí trở nên hấp dẫn hơn và thu hút nhiều độc giả hơn. Ví dụ, theo các khảo sát của công ty nghiên cứu Nielsen, so sánh lượng xem truyền hình trước và sau khi cuộc chiến tại Iraq lần 2 nổ ra năm 2003, người ta thấy rằng MSNBC tăng 357%, CNN tăng 305% và Fox News tăng 239%. Bên cạnh việc thông tin, báo chí còn có vai trò dẫn đường dư luận, giúp dư luận có cái nhìn đúng đắn về cuộc chiến.
Thế nhưng, nhìn từ phía các thế lực tham gia hoặc liên quan đến cuộc chiến, báo chí có khi bị xem như cái gai trong mắt .Vì vậy, che mắt hoặc lôi kéo được báo chí tuyên truyền theo ý đồ của mình là biện pháp tốt nhất. Càng về sau, các chiến thuật lôi kéo và sử dụng báo chí càng tinh vi hơn khiến chính nhà báo có khi cũng không nhận ra. Công việc tường thuật chiến tranh của người làm báo sẽ ngày càng khó khăn hơn vì những áp lực và những mối quan hệ phức tạp giữa báo chí với các thế lực tham chiến.
ThS. Triệu Thanh Lê

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Arlen, Michael (1997). Living room war. Syracuse University Press. United States.

2. Hoyt, Mike (2007). Reporting Iraq. Melville House Publishing. New Jersey.

3. Finnegan, Lisa (200). No Questions Asked: News coverage since 9/11. Praeger. Westport.

4. Khuyên, Đoàn Hữu Hoàng (2011). Nhà báo nước ngoài ở Việt Nam. Tiểu luận nhóm môn học Lịch sử Báo chí Việt Nam. ĐHKHXH&NV. TP.HCM

5. Quang, Trần Hữu (2001). Chiến tranh và Truyền thông. Thời Báo Kinh tế Sài Gòn. 4/10/2001, trang 35

6. Thussu, Dayan (2003). War and the Media. Sage. London.

7. www.cpj.org

8. www.vietnamwar.net

[1] Nhà báo Walter Cronkite, người thực hiện chương trình “Documentary on Vietnam” phát trên kênh truyền hình CBS năm 1968, được bình chọn là một trong 100 nhà báo tiêu biểu của nước Mỹ (theo bình chọn của Khoa Báo chí – ĐH New York).
[2] Xem những câu trích dẫn nổi tiếng về cuộc chiến tranh Việt Nam tại trang web http://www.vietnamwar.net/quotations.htm
[3] PR là một trong những chiến lược quan trọng của truyền thông hiện đại nhằm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, v.v… với công chúng. Các chính phủ đều sử dụng chiến lược PR để xây dựng hình ảnh tốt đẹp cho mình. Tuy nhiên, việc sử dụng các chiến lược PR gây ra những tranh luận xung quanh vấn đề liệu PR có làm hạn chế tự do báo chí.

[4] Theo Tổ chức Bảo vệ Nhà báo (Committee to Protect Journalists), có 914 nhà báo trên thế giới đã bị giết kể từ năm 1992 đến nay. Trong đó Iraq là chiến trường nguy hiểm nhất với 151 nhà báo đã thiệt mạng tại đây (tham khảo thêm tại trang web: www.cpj.org )

[5] Cuộc chiến Tây Ban Nha – Mỹ (1898) xuất phát từ mâu thuẫn giữa Tây Ban Nha và Mỹ sau những can thiệp của Mỹ vào chiến tranh giành độc lập tại Cuba. Sau khi chiến hạm Maine của Mỹ bị chìm tại vịnh Havana một cách bí ẩn vào năm 1897, áp lực chính trị đã khiến chính quyền của Tổng thống Mỹ William McKinley tham gia vào cuộc chiến. Khi nhắc đến cuộc chiến này, các nhà nghiên cứu truyền thông và lịch sử thường xem sự kiện chiến hạm Maine bị chìm là giọt nước tràn ly khiến chiến tranh bùng nổ. Họ cũng không quên nhắc đến vai trò của báo chí như một tác nhân thổi bùng sự bất bình của dư luận, tạo sức ép khiến chính quyền Mỹ lúc bấy giờ vốn chưa muốn gây chiến buộc phải bước chân vào cuộc chiến.
[6] Gần đây, các nhà nghiên cứu lại cho rằng cuộc chiến nổ ra không phải do Hearst và tờ báo của ông. Những tờ báo giật gân trong giai đoạn này chỉ phổ biến ở các thành phố lớn như New York chứ không có ảnh hưởng lớn ở vùng nông thôn và các thành phố nhỏ tại nước Mỹ.
[7] Trích lại từ bài viết “War and the Entertainment industries: New research priorities in an era of cyber-patriotism” của nhà nghiên cứu Jonathan Burston, in trong cuốn War and The Media (xem phần Tài liệu Tham khảo)
[8] Xem chú thích số 8
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.